Đầu tư tư nhân (Private Equity Investment) là loại hình chuyên đầu tư vào các công ty tư nhân, công ty chưa niêm yết, dưới hình thức góp vốn (cổ phần) hoặc mua trái phiếu chuyển đổi (Convertible Bond) của các công ty này.
Đây là loại hình không phải chịu sự ràng buộc nào trong việc công bố thông tin như công ty đại chúng (Public Company) hay công ty niêm yết (Listed Company).
Thời gian từ lúc bắt đầu rót vốn đầu tư tới lúc quỹ thoái vốn thu lợi nhuận thường dao động trong khoảng từ 3 – 7 năm cho 1 thương vụ.
Các thương vụ PE đều có giá trị lớn (dao động từ vài cho tới vài trăm triệu USD/ thương vụ) và cũng vì thế các quỹ đầu tư PE được kì vọng là sẽ tạo ra sự thay đổi mang tính bước ngoặt không chỉ về chiến lược, hướng đi của doanh nghiệp trong tương lai, ảnh hưởng rất lớn tới mọi mặt của doanh nghiệp (nhân sự, sản phẩm, vận hành,…).
***Các quỹ PE cũng có thể tham gia hoạt động rót vốn những công ty có tiềm năng nhưng đang gặp khó khăn về tài chính dưới dạng “Sát nhập, mua lại” – Merger & Acquisition.
Cũng vì những điều trên, những hoạt động mua bán đầu tư trong PE thường đòi hỏi yếu tố bảo mật thông tin ở mức cao để có thể triển khai thành công.
Các quỹ PE luôn luôn trong trạng thái tìm kiếm các công ty có tiềm năng tăng trưởng lớn – “tìm ngọc trong cát”. Mục đích đầu tư của các quỹ PE khác biệt với nhà đầu tư chiến lược (strategic investor) – thường đầu tư nắm giữ lâu dài và tìm kiếm sức mạnh tổng hợp (synergy) với doanh nghiệp mà họ đang sở hữu.
Do đó, đầu tư vào 1 công ty tư nhân đòi hỏi nhà đầu tư có những kiến thức và kinh nghiệm sâu rộng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như tài chính, chiến lược, marketing, vận hành, nhân sự…để cùng tham vấn và đánh giá công ty mình đầu tư.
Và rủi ro thường đi kèm với lợi nhuận. Một hình thức đầu tư có tỷ suất sinh lời cao như quỹ PE thì rủi ro là điều khó tránh khỏi.
Nhìn chung, các quỹ PE là các quỹ quản lý vốn của các tổ chức hoặc cá nhân giàu có. Ở Việt Nam, các quỹ Private Equity lớn gồm: Mekong Capital, Dragon Capital, VinaCapital, Vietnam Investment Group (VIC)
Một chu trình đầu tư PE sẽ gồm
- Deal Sourcing – Tìm kiếm thương vụ
- Deal Structuring – Cấu trúc thương vụ
- Operation – Tham gia vận hành cùng công ty
- Exit – Thoái vốn, hiện thực hóa lợi nhuận
Trong bước số 1 – Deal sourcing – Tìm kiếm doanh nghiệp tiềm năng hay còn gọi là “tìm ngọc trong cát”. Các quỹ PE có đội tìm kiếm các công ty tiềm năng. Để làm được tốt việc này, đòi hỏi đội ngũ nhạy bén với thị trường, hiểu sâu về thị trường, biết được các công ty nào tốt hoặc đang có nhu cầu gọi vốn.
Các tiêu chí để tìm kiếm có thể là:
- Ngành: ngành gì, tăng trưởng như nào, tiềm năng ngành
- Công ty: top trong ngành, lợi thế cạnh tranh, đội ngũ lãnh đạo
- Sản phẩm/ dịch vụ: đột phá, lợi thế gì (chi phí, chất lượng, giá cả,…)
- Khách hàng: mới, cũ, độ tin cậy/ trung thành,…
Lưu ý là cả khi tìm kiếm được doanh nghiệp có nền tảng cơ bản tốt, đáng để đầu tư, thì các tổ chức đầu tư thường gặp phải một số vấn đề không mong muốn.
Trong số đó, con người luôn là vấn đề quan trong nhất. Việc một đối tác mới tham gia đầu tư và đồng hành cùng doanh nghiệp sẽ phát sinh những vấn đề về bất đồng quan điểm, lối tư duy, lợi ích, quyền lực. Do đó, một trong những nhiệm vụ phức tạp nhất và quan trọng nhất của tổ chức đầu tư khi thực hiện đầu tư vào doanh nghiệp là đánh giá đúng và đầy đủ năng lực & phẩm chất của người chủ doanh nghiệp. Sự trung thực về quá khứ và hiện thực của doanh nghiệp, tư duy sẵn sàng thay đổi để thích ứng, sự nhiệt huyết máu lửa với doanh nghiệp và sự sẵn sàng chia sẻ và chào đón nhà đầu tư cùng đồng hành để tăng cường nội lực cho doanh nghiệp là những điều nhà đầu tư mong muốn tìm kiếm ở đội ngũ lãnh đạo.
Ngược lại, chủ doanh nghiệp khi muốn được rót vốn, họ cũng sẽ mong muốn tìm kiếm các quỹ đầu tư có cùng chí hướng và giúp họ tạo ra nhiều giá trị hơn.
Ngoài vấn đề về con người, việc hiểu được đúng sức khoẻ tài chính của doanh nghiệp cũng là thử thách không nhỏ cho nhà đầu tư. Sức khỏe tài chính được thể hiện thông qua các báo cáo tài chính (BCTC). Do đó, điều tiên quyết là các BCTC cần minh bạch và đầy đủ.
Tại bước số 2 – Cấu trúc thương vụ:
Việc đầu tiên là xác định được giá trị của thương vụ hay còn gọi là định giá công ty cần đầu tư (Company valuation).
Đối với các doanh nghiệp có dòng tiền tương đối ổn định hoặc đã có lợi nhuận, cơ sở định giá thường được áp dụng là dựa trên số lần trên EBITDA của các doanh nghiệp tương đồng hoặc các giao dịch tương đồng.
Đối với các công ty start-up, hay đặc biệt các công ty công nghệ, thời điểm đầu tư thường là từ khi chưa có lợi nhuận, cách định giá có thể quy về doanh thu, số lượng đơn hàng, số lượng người dùng.
Sau khi ra được một mức định giá công ty (Company value). Quỹ PE có thể rót vốn vào theo dạng đầu tư cổ phiếu kèm theo quyền được bán lại tại một mức tỷ suất sinh lời nhất định hoặc đầu tư trái phiếu kèm quyền chuyển đổi thành cổ phiếu, hoặc kết hợp cả hai.
Với các hình thức này, các quỹ PE có thể đưa vào hợp đồng mua bán những điều kiện chặt chẽ để bảo về quyền lợi của mình, bao gồm các điều kiện về tài sản thế chấp, tỷ lệ chuyển đổi, giá chuyển đổi hay các điều khoản chống pha loãng…
Tại bước số 3 – Vận hành. Có thể thấy rằng , các quỹ PE có những đóng góp quan trọng cho sự thành bại của doanh nghiệp nói riêng và sự phát triển của kinh tế nói chung, giúp các doanh nghiệp nhỏ có khả năng tiếp cận với nguồn vốn ngoài các kênh truyền thống như ngân hàng. Từ đó, tạo động lực cho các DN nhỏ này mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao sức khoẻ tài chính, tiếp cận tới những thị trường mới, tập khách hàng mới.
Các quỹ PE sẽ tận dụng các sức mạnh họ sẵn có (tiềm lực tài chính, mối quan hệ đối tác rộng lớn, các công ty khác trong danh mục đã đầu tư, kinh nghiệm đa lĩnh vực,…) để hỗ trợ công ty mình rót vốn. Họ tham gia cùng đội ngũ lãnh đạo công ty để vận hành, thay đổi công ty về nhiều mặt như cơ cấu DN, chiến lược sản phẩm, marketing, quy trình sản xuất, quy trình vận hành nội bộ,.. và các quỹ sẽ cùng DN đặt ra các KPIs (KPI hàng tháng/ hàng quý/ hàng năm) về doanh thu, lợi nhuận,…Theo Grant Thornton 2018, yêu cầu IRR cho quỹ PE 20-25% và nhà đầu tư chiến lược là 18-20% (Grant Thornton 2018).
Sau quá trình rót vốn, tham gia đồng hành cùng doanh nghiệp, khi thấy đủ điều kiện và khi có cơ hội, các quỹ PE sẽ tiến hành thoái vốn. Và đó chính là bước số 4 – Exit. Việc thoái vốn, chốt lời đặc biệt được quan tâm tại thị trường Việt Nam – là thị trường mới nổi khi tính thanh khoản chưa thực sự ổn định.
Các hình thức thoái vốn gồm
- Bán lại phần vốn đã góp
- Tiến hành IPO công ty tư nhân
Chung quy lại, việc hiểu rõ nhu cầu/ khả năng của doanh nghiệp và mục đích, yêu cầu của nhà đầu tư – hiểu người hiểu ta sẽ giúp cho hành trình đầu tư được thuận lợi và tạo ra quả ngọt cho cả 2 bên.
Các hình thức đầu tư khác
#1. Quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital Fund)
Khá giống với hình thức PE, đó chính là VC.
Các quỹ Venture Capital (viết tắt VC) thường đầu tư vào các start-up ở giai đoạn đầu, được đánh giá là có tiềm năng tăng trưởng nhanh.
Hình thức này với mục tiêu phát triển các công ty đã đầu tư một cách nhanh chóng, sau đó bán chúng qua các giao dịch M&A hoặc IPO.
Nhìn chung, Quỹ VC sẽ đầu tư vào nhiều công ty hơn quỹ PE; nhưng xét về quy mô đầu tư, thường số tiền đầu tư của PE sẽ cao hơn.
Ở khía cạnh khẩu vị rủi ro, VC chấp nhận rủi ro cao hơn PE. Trước khi đầu tư, các VC đã chuẩn bị “tinh thần” rằng khả năng cao là phần lớn các công ty trong danh mục đầu tư của họ sẽ thất bại, nhưng nếu một công ty trở thành unicorn tiếp theo, quỹ VC vẫn có thể kiếm được khoản lợi to lớn.
#2. Angel Investor (Nhà đầu tư thiên thần)
Là người sử dụng tiền của chính mình để đầu tư vào các công ty start-up ở giai đoạn đầu.
Các nhà đầu tư thiên thần cũng đóng góp các lời khuyên, kinh nghiệm, và trợ giúp rất nhiều cho start-up mà họ đầu tư.
Sự khác nhau giữa nhà đầu tư thiên thần và VC là VC hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp, tập trung các nhà đầu tư chuyên nghiệp; và quỹ mà VC dùng để đầu tư đến từ nhiều nguồn khác nhau – các tập đoàn và cá nhân, quỹ hưu trí tư nhân và công cộng…
#3. Equity Crowdfunding (Gây quỹ từ cộng đồng)
Ở hình thức này, vốn được huy động từ đám đông, thông qua việc bán chứng khoán của một công ty tư nhân – công ty chưa lên sàn giao dịch chứng khoán.
